[general_devel] [M4P2 Newsletter] Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho Người nghèo II - Tháng 11 năm 2010

Markets4poor II info at markets4poor.org
Wed Nov 24 18:00:44 GMT 2010
















Tháng 11 năm 2010 


M4P2 Newsletter 






Lễ Khởi động vòng nghiên cứu thứ 2 của Hợp phần Nghiên cứu Hành động Chính sách 




Hợp phần Nghiên cứu Hành động Chính sách sẽ tổ chức buổi giới thiệu khởi động vòng Nghiên cứu thứ 2 trong lĩnh vực Thị trường Lao động và Hợp tác Công tư. Lễ khởi động được tổ chức tại Khách sạn Victory, 14 Võ Văn Tần, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh vào sáng ngày 24 tháng 11 năm 2010, bắt đầu từ 8.00 sáng. 




Hợp phần nghiên cứu hành động chính sách của dự án M4P2 sẽ tài trợ những nghiên cứu, trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, dẫn đến việc tạo ra những thay đổi chính sách mang tính thị trường và vì người nghèo ở Việt Nam. Dự án sẽ tài trợ cho những đơn vị nghiên cứu và tổ chức có uy tín để tiến hành nghiên cứu trong 3 lĩnh vực i) phát triển chuỗi giá trị; ii) hợp tác công tư trong cơ sở hạ tầng và iii) thị trường lao động. 




Trong vòng nghiên cứu thứ nhất, Hợp phần nghiên cứu hành động chính sách đã và đang được thực hiện trong 4 dự án nghiên cứu về hợp đồng tiêu thụ hàng nông sản và cải thiện hệ thống đào tạo và dạy nghề. Vòng 2 sẽ tập trung vào chủ đề cải thiện hệ thống đào tạo và học/truyền nghề của khu vực kinh tế phi chính thức và cải thiện bảo trì đường giao thông nông thôn thông qua hình thức hợp tác công tư. 




Nhấn vào đây để tải xuống Điều khoản tham chiếu cho 

Thị trường lao động: Cải thiện Hệ thống đào tạo/học (truyền) nghề của khu vực kinh tế phi chính thức: Tiếng Anh l Tiếng Việt 




Hợp tác công tư: Đột phá trong Bảo trì Giao thông nông thôn : Tiếng Anh l Tiếng Việt 




Nhấn vào đây để tải xuống mẫu hồ sơ và các thông tin thêm về quy trình nộp hồ sơ. Thời hạn nộp hồ sơ đến hết ngày 5 tháng 1 năm 2011. 









Tìm hiểu về vai trò của người buôn bán trong Chuỗi giá trị cây tre 






Một nhóm nghiên cứu từ Hợp phần Nghiên cứu Hành động Chính sách (PARU) cùng với GRET - đơn vị được nhận tài trợ của PARU để thực hiện nghiên cứu về hợp đồng nông sản đã cùng tiến hành một chuyến công tác tới Thanh Hóa từ ngày 12 đến 14 tháng 10 năm 2010. 




Tại Thanh Hóa có rất nhiều loại tre được trồng, mỗi loại với những đặc điểm và công dụng riêng. Tuy nhiên, cho tới nay loại thông dụng nhất được trồng là Luồng và Nứa. Hai loại này ước tính chiếm tới trên 90% tổng diện tích tre được trồng hay mọc tự nhiên tại tỉnh. Việc trồng trọt được thực hiện rải rác giữa hàng ngàn nguời sản xuất, phần lớn trong đó nghèo và thu ộc nhóm dân tộc thiểu số, sống trong những xã miền núi vùng sâu vùng xa. Cây Luồng (Dendrocalamus barbatusy) mang lại nguồn thu nhập chính cho khoảng 30.000 hộ trong vùng và là cây tiềm năng để giúp người dân thoát nghèo. 




Hệ thống trao đổi buôn bán tre ở cấp địa phương tại Thanh Hóa hoàn toàn phụ thu ộc vào các mối quan hệ trao đổi dựa trên sự tin cậy giữa các nhà sản xuất cá nhân và những người buôn bán/ thu gom địa phương. Các mối quan hệ trao đổi buôn bán dựa trên các thỏa thu ận hợp đồng lợi ích lâu dài là những khối tạo nên một hệ thống dựa trên các mối quan hệ xã hội dày đặc, nhận thức chung về thị trường, và một tập hợp các quy tắc không chính thức mà các nhà thương lái và nhà sản xuất tự động tuân theo. 




Trong chuyến công tác, một số nông dân được phỏng vấn cũng đề cập các mối quan hệ dựa trên sự tin cậy như một nhân tố chính trong việc chọn đối tác/người thu gom để trao đổi buôn bán. Cùng với sự tin cậy thì việc thanh toán đúng thời gian của thương lái địa phương là yếu tố quan trọng thứ hai. Vì sự tin cậy của người thương lái đối với người sản xuất nằm ở dưới dạng những khoản thanh toán trước cho trao đổi buôn bán tre trong tương lai nên hai điểm này liên kết rất chặt chẽ với nhau. Những bằng chứng thu được cho thấy sự tin cậy được coi như một yếu tố liên kết chính các mối quan hệ bền chắc giữa người kinh doanh/ thu gom và người sản xuất. 




Những cuộc thảo luận với nông dân cho thấy những đối tác buôn bán thường không sẵn lòng mua tre ở nhiều chất lượng khác nhau. Thêm vào đó, các mối quan hệ cá nhân (việc có các hợp đồng thỏa thu ận mua bán lâu dài và quan hệ gia đình giữa người thương lái và người sản xuất) là các yếu tố ít quan trọng hơn trong việc chọn lựa đối tác kinh doanh/ thu gom. 




Các bằng chứng thu được chỉ ra rằng các hình thức trao đổi buôn bán cá nhân không thay đổi nhiều trong vòng 3 năm qua. Tuy là thành viên của các hợp tác xã hay các nhóm, các nhà sản xuất vẫn thích bán tre chưa được phân loại cho một số ít các thương lái (trung bình là 1 hay 2 người). Sự cứng nhắc này được một số thương lái/người thu gom địa phương mà nhóm công tác tới thăm khẳng định, và họ cũng chủ yếu phụ thu ộc vào một nhóm nào đó các nhà cung cấp tre. Các thương lái địa phương không sẵn sàng hay không thể vượt sang giới hạn mạng lưới hoạt động của thương lái khác để thiết lập mối quan hệ cung cấp với những nhà sản xuất ở ngoài nhóm/khu vực của mình. Các thương lái vì thế đã đạt đến mức giới hạn của khả năng nguồn cung của họ, và vì thế không có khả năng mở rộng quy mộ hoạt động của mình. 




Mối liên kết giữa trao đổi buôn bán và sự tin cậy chủ yếu được thúc đẩy bởi những cân nhắc trong việc chia sẻ rủi ro; đó có thể được coi như một hệ thống tạm coi là tin cậy nhằm cung cấp một đảm bảo không chính thức đối với sự thay đổi thất thường của thị trường cho cả người thương lái và hộ gia đình. Từ góc nhìn của người thương lái, rủi ro chính có liên quan tới việc đảm bảo một nguồn cung cấp tre tin cậy trong trường hợp cầu lên cao nhưng nguồn cung lại bị hạn chế. 




Nghiên cứu đang được tiến hành nhằm mang lại một hiểu biết sâu hơn về những vấn đề này và xem xét những khả năng, nếu thích hợp, để giới thiệu việc sử dụng hợp đồng nông sản như một cách khắc phục một số những cản trở này. Giai đoạn tiếp theo của nghiên cứu sẽ bao gồm những phân tích sâu hơn về các cản trở và vấn đề cùng việc phát triển một số các hoạt động thử nghiệm nhằm mở rộng những hiểu biết về việc áp dụng hợp đồng nông sản trong điều kiện cụ thể đang diễn ra. 









Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thêm về các yếu tố quyết định trong việc cải thiện Hệ thống Đào tạo Dạy nghề (TVET) 






Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), một trong 4 đơn vị được nhận tài trợ nghiên cứu trong vòng nghiên cứu thứ nhất của Hợp phần Nghiên cứu Thực hành Chính sách (PARU) đã thực hiện một số chuyến đi thực địa nhằm khảo sát việc hoạt động của Hệ thống Đào tạo dạy nghề tại hai tỉnh: Thái Nguyên và Vĩnh Phúc trong tháng 9 năm 2010. 




Lao động thường là nguồn tài sản chính (và đôi khi là duy nhất) của người nghèo. Vì thế, khi một thị trường hấp dẫn được thiết lập cho lao động, nó cho thấy đó là một trong những cách có thể tiếp cận nhanh nhất để giúp người nghèo thoát khỏi đói nghèo. 




Tìm kiếm nguồn lao động chất lượng cho lực lượng lao động là một trong những thách thức quan trọng nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt. Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam bị phân khúc khá cao, hệ thống đào tạo dạy nghề vẫn còn thiếu thích hợp, và không đáp ứng được các yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người nghèo. Vì thế, người nghèo thiếu các kỹ năng để tham gia vào những công việc được bảo đảm và được trả lương cao. Vì thế, nghiên cứu hành động chính sách của CIEM là nhằm khảo sát những cách tiếp cận nhằm củng cố hệ thống đào tạo dạy nghề, nhằm đáp ứng được các yêu cầu của khu vực kinh tế tư nhân, hoặc để cung cấp các kỹ năng thích hợp cho người lao động, đặc biệt là người nghèo, thoát khỏi đói nghèo. 




Nhóm CIEM đã thực hiện các phỏng vấn với một số các bên liên quan có tham gia vào việc hỗ trợ đào tạo dạy nghề tại Vĩnh Phúc và Thái Nguyên, trong đó bao gồm các cơ quan chính phủ, các công ty trong khu vực tư nhân, các bên cung cấp đào tạo và các viện đào tạo dạy nghề. Những kết quả ban đầu cho thấy hai bức tranh rất khác biệt tại hai tỉnh. Tại Thái Nguyên, nghiên cứu ban đầu cho thấy chỉ có một số rất ít những liên kết được thiết lập giữa các công ty và các viện đào tạo dạy nghề, để có thể thử đảm bảo rằng việc đào tạo các kỹ năng đáp ứng được các nhu cầu và yêu cầu từ các doanh nghiệp. 




Các viện cơ quan đào tạo dạy nghề hoạt động dưới kinh phí Nhà nước được phỏng vấn tại Thái Nguyên cho thấy họ đào tạo theo nguồn cung hơn là theo nhu cầu, và đưa ra những chương trình đào tạo rất lạc hậu. Vì thế, trong hầu hết các ví dụ, các doanh nghiệp phải tự đào tạo các nhân viên cho mình. Trong phần lớn các trường hợp các doanh nghiệp và hệ thống đào tạo dạy nghề có mối liên kết được thiết lập để đưa ra những chương trình đào tạo có mục tiêu, những mối liên kết này cũng tương đối yếu, và thường dẫn đến số lượng tuyển dụng của doanh nghiệp đối với nhân viên do các đơn vị đào tạo dạy nghề đào tạo ra thường ở con số tối thiểu. 




Tại Vĩnh Phúc, quá trình công nghiệp hóa được diễn ra rộng rãi hơn và nhìn chung tại đây có một mật độ lớn hơn các doanh nghiệp sản xuất. Tỉnh cũng đang xem xét việc ứng dụng các nghị định mới và nghị quyết nhằm cải thiện việc hoạt động của hệ thống đào tạo dạy nghề. Thêm vào đó, ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đang phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đối phó với những vấn đề nảy sinh, khi diện tích đất nông nghiệp được thu hồi để thiết lập những doanh nghiệp mới trong tỉnh. Tỉnh đã yêu cầu những doanh nghiệp thích hợp cung cấp việc làm cho những nông dân bị mất đất trong trường hợp những doanh nghiệp đó được xây dựng trên diện tích đất thu hồi của nông dân. 




Kể từ đây, một hình thức hợp tác giữa ba bên của đào tạo dạy nghề đã được thiết lập, với sự tham gia của các viện/trung tâm đào tạo dạy nghề, các doanh nghiệp tư nhân và các nông dân mất đất. Mặc dù vậy, các chương trình đào tạo của hệ thống đào tạo dạy nghề vẫn có xu hướng theo hướng đầu vào, hơn là đáp ứng các đòi hỏi và yêu cầu của các doanh nghiệp mới. 




Nghiên cứu ban đầu cho thấy cần phải làm nhiều hơn để hiểu thêm về các nhu cầu của khu vực tư nhân, và để hệ thống xây dựng một chương trình giảng dạy thích hợp mà khu vực tư nhân đánh giá cao, cùng với quá trình cấp giấy chứng nhận được công nhận và đánh giá cao. Nhóm CIEM sẽ tìm kiếm những cách mới và sáng tạo nhằm giải quyết tình hình này trong vòng 7 tháng tới, và cố gắng phát triển và chứng tỏ một hệ thống thay thế có thể được nhân rộng ở những nơi khác, từ đó có thể một tác động tích cực tới tư duy và chính sách của chính phủ đối với đào tạo và dạy nghề. 


Tin tức & Sự kiện 
• Lễ Khởi động vòng nghiên cứu thứ 2 của Hợp phần Nghiên cứu Hành động Chính sách 
• T ìm hiểu về vai trò của người buôn bán trong Chuỗi giá trị cây tre 
• N ghiên cứu nhằm tìm hiểu thêm về các yếu tố quyết định trong việc cải thiện Hệ thống Đào tạo Dạy nghề (TVET ) 
• Ng hiên cứu tại Đăk Lăk nhằm hiểu thêm về các khó khăn và tiềm năng của Hợp đồng Nông sản 

Markets4Poor II 
• Qũy Thách thức Việt Nam (VCF) 
• Hợp phần Nghiên cứu Hành động Chính sách (PARU) 
• Về M4P2 
Nhà tài trợ & Cơ quan thực hiện 
• MPI 
• ADB 
• DFID 
• Nathan EME 
















































































































































































































































































Making Markets Work Better for the Poor II, 
Room 706, Vuon Dao Building, Phu Thuong, Tay Ho, Hanoi, Vietnam 
Tel: 84-4-2 223 9261 /2 Fax: 84-4-2 223 9261 Email: info at markets4poor.org 



Unsubscribe from this newsletter
-------------- next part --------------
An HTML attachment was scrubbed...
URL: http://ngocentre.org.vn/pipermail/general_devel/attachments/20101125/44425746/attachment-0006.html 


More information about the general_devel mailing list